Cựu chiến binh đánh thức loài cây 'vương giả'
VAWA - Rời quân ngũ sau 37 năm gắn bó, ông Dương Văn Ngọc - cựu binh Binh đoàn 16 miệt mài đánh thức giá trị cây dó bầu trên vùng đất đỏ miền Đông.

Tư duy người lính mở lối cho cây dó bầu
Trong không khí hào hùng của những ngày tháng tư lịch sử, chúng tôi theo chân đoàn công tác của Hội Cựu chiến binh phường Đồng Xoài (Đồng Nai) đến thăm mô hình kinh tế của Thượng tá Dương Văn Ngọc - cựu binh Binh đoàn 16 đang miệt mài đánh thức giá trị cây dó bầu trên vùng đất đỏ miền Đông.

Thượng tá Dương Văn Ngọc bên vườn cây dó bầu. Ảnh: Trần Trung.
Rời quân ngũ sau 37 năm gắn bó, ông Ngọc trở về với nền tảng kinh tế vững vàng cùng 10 năm nghiên cứu cây dó bầu - loài cây thân gỗ duy nhất có khả năng tích tụ trầm hương. Bản lĩnh người lính từng "nằm gai nếm mật” nơi biên giới không cho phép ông chọn cuộc sống an nhàn. Ông bắt đầu một “trận chiến” giúp dân chống lại cái nghèo bằng hướng ứng dụng kỹ thuật cấy tạo trầm sinh học. “Tôi nghỉ hưu được vài năm thì thấy mình vẫn phải làm gì đó. Đất đồi dốc chưa tận dụng hết, bà con còn nghèo trên chính tài nguyên của mình, thật lãng phí”, ông Ngọc trăn trở.
Theo ông Ngọc, trầm hương Việt Nam gắn liền với sự hình thành và phát triển của các triều đại phong kiến, không chỉ là sản vật quý hiếm mà còn là biểu tượng của quyền lực, tâm linh và ngoại giao. Tuy nhiên, ngành này đang trải qua những biến động lớn như phát triển tự phát, manh mún và tình trạng hàng giả làm mất uy tín thương hiệu quốc gia. Nhiều người dân từng chặt bỏ cây dó bầu, gây sự đứt gãy trong chuỗi cung ứng nguyên liệu.
Quyết định khởi nghiệp ở tuổi xế chiều của ông Ngọc từng vấp phải sự phản đối từ tới 90% người thân trong gia đình. Tuy nhiên ông vẫn thuyết phục bằng bằng mọi cách.
Tại địa phương, cây điều từ lâu đã gắn bó với bao thế hệ nông dân. Tuy nhiên đất sườn dốc ngày càng bạc màu cùng sự bấp bênh của giá cả đã đẩy người dân vào thế khó. Khi mỗi ha điều chỉ còn mang lại nguồn thu khiêm tốn từ 40 - 70 triệu đồng/ha/năm, nghịch lý hiện hữu là nông dân có đất, có sức lao động nhưng vẫn loay hoay trong vòng xoáy thu nhập thấp
Trước khi bắt tay vào dự án, ông Ngọc không vội vàng mà dành nhiều thời giam tham quan, học hỏi tại các "thủ phủ" trầm hương như Hà Tĩnh, Quảng Nam, Khánh Hòa, Đồng Nai để tiếp thu tinh hoa của vùng sản xuất truyền thống. Với ông, làm nông nghiệp không thể dựa vào cảm tính hay may rủi mà phải hoạch định, có chiến lược bài bản, chặt chẽ, chẳng khác nào tổ chức một trận đánh.
Mô hình của ông được quản lý, vận hành theo hướng tự đầu tư, tự quản lý nhằm tối ưu chi phí, nâng cao hiệu quả. Toàn bộ chiến lược phát triển được xây dựng theo từng giai đoạn rõ ràng (chu kỳ 9 - 10 năm) với các bảng dự toán chi phí chi tiết cho từng khâu sản xuất.

Ông Ngọc chia sẻ hành trình đánh thức loài cây "vương giả". Ảnh: Trần Trung.
Điểm mấu chốt trong mô hình của ông Ngọc chính là việc làm chủ hoàn toàn công nghệ truyền chế phẩm sinh học. Nếu như trong canh tác truyền thống, quá trình tạo trầm phụ thuộc phần lớn vào yếu tố may rủi và tác động ngẫu nhiên của tự nhiên thì với tư duy của một “nhà khoa học thực hành”, ông đã chủ động ứng dụng kỹ thuật sinh học hiện đại để can thiệp vào mạch sống của cây dó bầu, qua đó kích thích quá trình hình thành trầm với sản lượng lớn và chất lượng đồng đều. Đây chính là chìa khóa để tối ưu hóa năng suất trên cùng một đơn vị diện tích, giúp đẩy doanh thu lên ngưỡng 200 triệu đồng/ha, vượt xa so với các loại cây công nghiệp truyền thống.
Từ 13ha với hơn 80.000 cây dó bầu ban đầu, 600 cây đã cấy chế phẩm tạo trầm, mô hình của ông Ngọc đang lan tỏa, thu hút hàng chục hộ dân xung quanh mạnh dạn chuyển đổi vườn điều già cỗi sang trồng dó bầu.
Không dừng lại ở sản xuất nguyên liệu thô, ông Ngọc từng bước hoàn thiện chuỗi giá trị khép kín từ vườn ươm giống, quy trình cấy tạo trầm, chăm sóc đến đầu tư chế biến sâu các sản phẩm như nhang trầm, vòng hạt, tinh dầu phục vụ xuất khẩu. Mục tiêu của ông Ngọc không chỉ dừng ở hiệu quả kinh tế mà còn hướng tới đưa trầm hương, vốn được xem là sản vật quý trở thành sản phẩm chất lượng cao với giá thành phù hợp, có thể tiếp cận rộng rãi hơn trong đời sống.
Khát vọng định vị thương hiệu quốc gia
Từ thực tiễn lăn lộn trên những đồi dó bầu, ông Ngọc nhìn nhận ngành trầm hương Việt Nam vẫn đang loay hoay trong vòng xoáy phát triển tự phát. Dù tiềm năng là "vàng mười", song sự thiếu vắng chiến lược tầm vóc quốc gia khiến ngành này rơi vào cảnh manh mún. Mối liên kết “bốn nhà” (nhà nông - nhà khoa học - nhà nước - doanh nghiệp) vẫn còn lỏng lẻo, các viện nghiên cứu dù có đề án nhưng việc ứng dụng thực tế còn khoảng cách xa.

Ông Ngọc từng bước xây dựng chuỗi trầm hương khép kín từ giống đến chế biến sâu. Ảnh: Trần Trung.
“Chúng ta đang thiếu chiến lược quảng bá, xây dựng thương hiệu, thiếu những doanh nghiệp đầu tàu đủ lực để xây dựng chuỗi giá trị khép kín từ khâu chọn giống đến chế biến sâu để xuất khẩu chính ngạch”, ông Ngọc trăn trở.
Bên cạnh đó, bài toán chuẩn hóa kỹ thuật vẫn chưa có lời giải thỏa đáng. Từ việc phân loại trầm đến quy trình trồng, cấy tạo, phần lớn vẫn làm theo kinh nghiệm thủ công, dẫn đến tỷ lệ thành công thấp và lãng phí tài nguyên. Đặc biệt, việc thiếu công nghệ chưng cất tinh dầu quy mô lớn, chất lượng cao và rào cản về thủ tục chứng minh nguồn gốc xuất xứ khi Việt Nam chưa đăng ký các bộ gen với quốc tế đang khiến trầm hương Việt chịu thiệt trên sân chơi toàn cầu.
Theo ông Ngọc, để lấy lại vị thế, việc đầu tiên là phải lập lại trật tự sản xuất và kinh doanh ngành hàng trầm hương. Hiện nay, việc xuất khẩu trầm hương chủ yếu qua đường tiểu ngạch dưới dạng nguyên liệu thô khiến giá trị thặng dư rơi vào tay đối tác nước ngoài. Tình trạng hàng giả, hàng nhái và nạn ép giá vẫn diễn ra nhức nhối, trong khi chính sách hỗ trợ cho loại cây có chu kỳ đầu tư dài này (từ 6 đến 20 năm) vẫn chưa đủ mạnh để doanh nghiệp yên tâm đầu tư phát triển.
Về mô hình kinh tế của cựu chiến binh Dương Văn Ngọc, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường Đồng Xoài Nguyễn Viết Thanh cho biết, đây là mô hình có tính đột phá, thể hiện rõ bản lĩnh và trí tuệ của người lính trong thời bình. Đây không chỉ là trang trại đơn lẻ mà là hạt nhân để hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã.

Mô hình kinh tế của ông Ngọc thể hiện bản lĩnh người lính thời bình Ảnh: Trần Trung.
“Thời gian tới, Hội sẽ tiếp tục phối hợp để tổ chức các buổi tham quan, học tập kinh nghiệm nhằm lan tỏa tinh thần khởi nghiệp và giúp hội viên cũng như nhân dân địa phương tận dụng tiềm năng đất đai, chuyển dịch cơ cấu cây trồng hiệu quả, hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững”, ông Thanh nhấn mạnh.
Chia tay chúng tôi khi nắng chiều đã nhuộm vàng những tán dó bầu, vị cựu chiến binh nở nụ cười hiền hậu: “Người ta bảo tôi sướng mà không biết hưởng. Nhưng với tôi, được thấy những triền đồi ở Đồng Nai phủ xanh cây dó, thấy bà con có thu nhập tiền tỷ trên chính mảnh đất quê hương, đó mới là sự an vui thực sự của tuổi già”.
Bài viết này được biên tập tổng hợp bởi ban biên tập Hội Trầm Hương. Để đọc nội dung nguyên gốc, vui lòng truy cập Báo Nông Nghiệp Môi Trường.
Đọc bài gốc



